CÁC GIAI THOẠI VỀ
CÁC NHÂN VẬT NAM Kỳ LỤC TỈNH
Phần 5: HÓC MÔN, BÀ
ĐIỂM VỚI 18 THÔN VƯỜN TRẦU
Hứa Hoành
Địa
danh Hóc Môn, cho tới nay vẫn c̣n nhiều ư kiến
giải nghĩa khác nhau. Theo cách hiểu thông thường,
người ta nói:"Hóc là chỗ xa xôi vắng vẻ
(như ‘hóc bà tó’) có nhiều cây môn nước mọc".
Nhà văn Lê Trung Hoa trong tiểu luận phó tiến sĩ
văn chương có cách giải thích khác: "Hóc là cổ
ngữ, có nghĩa là ḍng nước nhỏ. Hóc đồng
nghĩa với ‘hói’ để chỉ nơi đấy sâu
lơm xuống thành băi dài có nước đọng".
Theo
một vị cao niên là cụ Lương Văn Nên
(1857-1937) ở Hóc Môn kể lại rằng:"Cách nay trên
100 năm, Hóc Môn là một khu rừng đất cao, có
nhiều cọp và thú dữ. Ban đêm chúng thường ra
con rạch ở gần chợ Hóc Môn ngày nay uống
nước". Lời kể ấy củng cố
giả thuyết: "Hóc Môn là ḍng nước nhỏ, có
mọc nhiều cây môn nước". Tưởng cũng
cần nói thêm về cây môn nước. Môn là loai cây thân cao
như cây bạc hà, lá lớn trên ngọn, mọc theo
chỗ trũng hoặc bờ sông, bờ ruộng có
nước. Có hai loại môn: Môn ngọt ở chính giữa
lá có chấm đỏ, có thể xào thịt ăn, hoặc
làm dưa giống như dưa cải hay dưa mái
dầm. C̣n môn ngứa chỉ dùng lá gói đường,
đậu mà thôi. Hóc Môn nằm phía Bắc Sài G̣n.
Từ
Phú Nhuận có đường cái quan đi lên Bà
Điểm, Hóc Môn, Trảng bàng, cho tới Tây Ninh và biên
giới Cam Bốt. Con đường này do Lê Văn
Duyệt trong lúc làm Tổng Trấn Gia Định thành,
chỉ huy dân phu đắp. Về sau Pháp mở rộng lên
G̣ Dầu gọi là quốc lộ số 1. Khi người
từ miền ngoài tới, Hóc Môn c̣n là rừng rậm.
Họ phải chặt cây làm chỗ trồng trọt,
rồi làm ruộng, rẫy. Dần dần nơi đây có
thôn ấp. Sản phẩm được trồng
nhiều nhất vùng Hóc Môn Bà Điểm là cau, trầu
để ăn kèm với thuốc trồng rất nhiều
ở G̣ Vấp. Thuốc ở G̣ Vấp nổi danh
khắp Nam Kỳ một thời gọi là thuốc G̣.
Trầu , cau Hóc Môn Bà Điểm cũng nổi danh khắp
miền Đông.
Thuở
đó, trầu, cau, thuốc lá rất cần thiết
hằng ngày, vừa để ăn, vừa dùng trong
việc xă giao. "Miếng trầu là đầu câu
chuyện", điều đó chứng tỏ
trầu,cau, thuốc là món hàng rất có giá trị. Trầu
là loại dây leo, phải cắm nọc cho nó ḅ lên. Hồi
cuối thế kỷ 19, ở đây có một cái chợ
chuyên môn bán nọc để trồng trầu, do ghe
xuồng từ các nơi chở đến. Chợ đó
là xă Tân Thới Nh́, có chợ Bến Nọc. Trầu và cau
phải trồng lên liếp , nhưng không xẻ
mương như ở miền giữa sông Tiền và sông
Hậu, v́ ở đây đất cao, chỉ có thể
đào giếng lấy nước tưới mà thôi.
Thị trường tiêu thụ trầu cau là chợ
Bến Thành, chợ Bà Chiểu.
Mấy
thập niên cuối của thế kỷ 19, dân chúng Bà
Điểm, Hóc Môn thường gánh trầu xuống Gia
Định bán. Họ đi thành đoàn hai, ba chục
người để khỏi bị cọp vồ.
Những năm sau đó, có xe ngựa chở trầu, cau và
đồ hàng bông xuống bán ở Sài G̣n. Những ai
từng cư ngụ trên đường Lê Văn Duyệt
hồi những năm đó chắc sáng sớm sẽ
bị đánh thức bởi tiếng vó ngựa lọc
cọc trên mặt đường, hoặc tiếng xe ḅ
cót két của người Hóc Môn, Bà Điểm chở
trầu cau và đồ hàng bông xuống chợ. Vùng này ,
theo sách cổ, có đến 18 thôn chuyên canh trầu cau, nên
gọi là "Thập bát phù viên", tức 18 thôn vườn
trầu.
Theo
bản án của Toà Án Gia Định xử vụ Quản
Hớn khởi nghĩa, giết vợ chồng Đốc
Phủ Ca, có kể tên 18 thôn liên hệ phải bồi
thường số tài sản thiệt hại do cuộc
khởi nghĩa này gây ra. Các thôn đó là:
1. B́nh
Hưng
2. Vĩnh Lộc
3. Tân Thới
Thượng
4. Tân Đông
Thượng
5. Trung Chánh (Quán Tre)
6. Tân Thông Tân
7. Tân Thông Tây
8. Tân Thới Tam
9. Tân Thới Nh́
10. Tân Thới
Tứ
11. Tân Đông
12. Tân Thành
13. Tân Đông Trung
14. Xuân Hoá
15. B́nh Hưng
Đông
16. B́nh Nhạn
17. Mỹ Hạnh
Hóc Môn
là nơi hội tụ của những cuộc đời
tao loạn miền Ngoài, t́m đến cuộc đất
mới ấm no. Họ lập thành làng xóm trong cùng chung
một hoàn cảnh, tạo ra một sắc thái riêng
biệt của con người Hóc Môn: Giàu nghĩa khí
(Nguyễn An Khuơng, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Ninh),
giàu ḷng yêu nước như Phan Công Hớn, Nguyễn
Văn Quá. Trong quá tŕnh h́nh thành Hóc Môn, Bà Điểm, ban
đầu họ lập các thôn xóm như Cây Lài, Bàu
Xiêm…rồi dần xuống Hóc Môn, Bà Điểm, trở lên
Củ Chi…
Năm
1982, tôi có lần lên thăm người bạn ở
Suối Đá, tức quận lỵ của một
quận mới: Dương Minh Châu. Đang lúc đó mùa khô,
có phong trào làm thủy lợi, đắp con đê ṿng quanh ḷng
hồ của đập Trị An. Sáu tỉnh xung quanh Sài
G̣n đều phải gởi người đến làm
sưu, tự túc cơm gạo. Bạn tôi kể, có một
lần vào giờ giải lao, một người dân Hóc Môn
vừa đốt điếu thuốc, nhả khói lên
trời rồi ra câu đối:
“Trai
Hóc Môn vừa hôn vừa móc”.
Lập
tức bên cạnh có người đáp lại:
“Gái
G̣ Công vừa gồng vừa co”
Dưới
thời Gia Long (1802-1820), Hóc Môn là lỵ sở của
huyện B́nh Dương. Phạm vi huyện này lan rộng
xuống tới Sài G̣n, và cả huyện Cần Giờ ngày
nay. Hồi đàng cưụ, Trần Tử Ca (1823-1885) làm
xă trưởng Hạnh Thông tới G̣ Vấp. Sau Ca
được thăng làm phó tổng Dương Hoà
Thượng. Ban đầu Trần Tử Ca là một phú
hộ, nhờ có chút ít học vấn nên được
cử làm xă trưởng Hạnh Thông, chớ không phải
là người xuất thân khoa bảng. Hồi đó
Trần Tử Ca chưa theo đạo Thiên Chúa.
Năm
1860, đồn Chí Hoà bị hạ. Pháp chiếm luôn các vùng
lân cận như Hóc Môn, Trảng Bàng, Tây Ninh. Lúc đó
huyện B́nh Dương c̣n dưới quyền tri phủ
Hồ Huân Nghiệp, đang chỉ huy nghĩa quân kháng
chiến. Đến năm 1865, Hồ Huân Nghiệp bị
bắt và đem hành h́nh tại Phú Thọ rồi tri
huyện Lưu Đ́nh Lễ ở Hóc Môn cũng bỏ
chạy. Pháp cử tên Lucien de Grammond lên trấn nhậm Hóc
Môn. Tên nầy có râu quai nón, rất dài, mỗi khi giận,
hắn nhai râu “trạo trạo”, dân chúng gọi là “ông nhai
râu”. Trần Tử Ca dẫn vài tên nghĩa quân ra hàng
để chuộc tội. Pháp cần người bản
xứ ra cộng tác , nên thâu dụng Ca, cho hắn cai
trị Hóc Môn, báo cáo t́nh h́nh và giữ an ninh. Thấy Ca khôn
ngoan lanh lợi, thạo đường đi nước
bước, Pháp cho Trần Tử ca dẫn
đường để chúng đi kinh lư các tỉnh
miền Tây. Tháng tám năm 1867, Ca cùng Giám Đốc Nội
Vụ Paulin Vial xuống tàu ở G̣ Công, bắt đầu
xuống Bến Tre. T́nh h́nh ở đây cũng mới
tạm yên. Rồi họ xuống Trà Vinh, quân Pháp c̣n giao
tranh với nghĩa quân tại Cầu Nang. Tên chỉ huy
ở đây đă báo cáo:”Có làng tất cả dân chúng
đều theo nghĩa quân.” Sau đó phái đoàn Pháp
xuống Sốc Trăng, lên Rạch Giá, Long Xuyên. Chuyến
đi thị sát vùng mới chiếm cho Pháp có ư niệm
vững chắc về t́nh h́nh mấy tỉnh miền Tây
cũng như địa thế của nó. Khi về,
để củng cố ḷng tin cậy của Pháp, gia
đ́nh Ca xin rửa tội theo đạo Công Giáo. Thấy
địa vị khá vững, Ca bắt đầu công
việc làm ăn của ḿnh. Trong lúc t́nh h́nh vùng mới b́nh
định chưa hoàn toàn yên ổn. Ca t́m những gia
đ́nh giàu có bắt bớ để tra khảo v́ nghĩ
họ giúp đỡ tiền bạc cho nghĩa quân. Bắt
họ, có lợi trước mắt là khi đánh
đập, gia đ́nh sẽ đem tiền đến
chuộc. Mặt khác Ca lo củng cố an ninh, kiểm soát
dân cư cựu trào, phân loại theo thành tích mà hắn
biết rơ trước đây. Thấy Ca làm được
việc, Pháp cho Ca giữ chức Phó tổng lúc
trước. Hồi năm 1983, có một lần ăn
cơm trong một gia đ́nh ở Chợ Lớn, tôi
được nghe một vị bô lăo, năm đó 81
tuổi, nhắc chuyện xưa về Phủ
Ca:"Phủ Ca là người khôn ngoan, có lối làm
việc theo kiểu đàng cựu. Mỗi lần bắt
nạn nhân để khảo của, hắn vừa
uống trà vừa hỏi cung, để cho dân chúng bu xung
quanh xem. Mỗi khi nạn nhân bị đánh đập tàn
nhẫn, rên la, thân nhân đứng bên ngoài cũng đau
đớn, xin đem tiền đến nạp để
cứu người thân. Nhiều người quá nghèo,
nhưng v́ thương chồng, con, phải bán nhà cửa,
trâu, heo đến chuộc mạng, rồi sau đó bỏ
làng trốn đi. Với phương pháp này, Ca làm giàu nhanh
chóng, cất nhà gạch ở chợ Hóc Môn đầu
tiên."
Một
nho sĩ xu nịnh lúc bấy giờ đă mô tả h́nh dung
Phủ Ca như sau:
"Ca
thường bịt khăn nhiễu điều tứ cú,
mặc áo lót song khai. Trấn nhậm tại xứ Hóc Môn,
tục danh Mười Tám Thôn Vườn Trầu. Đang
thuở ấy, bốn phía xứ Hóc Môn, nhân dân phong tục
nhiều người ngang ngạnh, phần th́ liền
với Trảng Bàng, đất g̣ rộng minh mông vô
hạn, quân giặc giă, trộm cướp hay quần
tụ ra vào."
Dựa
thế lực của chồng, vợ Ca cũng tác quái
nhiều việc. Bà độc quyền mua trầu cau
rồi dùng xe ḅ chở xuống Gia Định bán. Bà c̣n
sắp xếp việc mua bán trong chợ Cầu. Trước
đó ở đây có chợ Bến Nọc. Năm 1871, Ca
được thăng tri huyện, thế lực càng
lớn, dân chúng nơm nớp lo sợ, coi ông như
cọp. Đến năm 1879, Ca được thăng
đốc phủ sứ, mở tiệc ăn mừng
bắt quan làng, dân chúng đóng góp. Năm đó, Ca cất
dinh quận, bắt dân phu phục dịch cả năm
trời như tội nhân lao động khổ sai. Bà
vợ, để mở mang công việc làm ăn, cũng
cho cất mới ở tại chỗ Chợ Cầu bây
giờ. Chỗ đó về sau, dân địa phương
gọi là "Chợ Quan Lớn Ca". Trước
bữa khai thị hai hôm, Ca cho dán bố cáo:
"Mốt
tới, coi chợ mới, tốt"
Sáng
sớm hôm sau, bên cạnh thông cáo đó, có một câu đáp
của một sĩ phu, chơi xỏ Ca:
"Mai
lên thấy con Mên" (Miên lai)
Hồi
trước ở trong Nam, người Việt sống
chung đụng với người Miên nhưng kỳ
thị họ, coi họ kém văn minh. Khi nói đến
"Cao Mên, Con Mên…" là có ư nghĩa khinh khi họ.
CUỘC
KHỞI NGHĨA 30 TẾT
Vợ
chồng Ca là người vừa tham vừa tàn ác. Sẵn
quyền lực, được Pháp tin cậy, Ca không
từ chối bất cứ biện pháp làm tiền dă man
nào. Giữa thập niên 1880, dân chúng Hóc Môn trải qua
những giấc mơ hăi hùng. Lúc nào họ cũng bị ám
ảnh bởi :”nửa đêm thúc thuế trống
dồn”. Bài “Vè Quản Hớn” nói lên t́nh cảnh ấy:
“Đêm năm canh
giấc ngủ chẳng an
Ngày sáu khắc, lo xâu cùng thuế (1)
Qua năm Dậu (1885) gẫm âu quá tệ,
Khổ người dân như khúc gỗ tṛn …”
(1)
xâu : tức là sưu, h́nh thức đóng thuế bằng
cách ra sức làm những công việc nặng nhọc
như đắp đường, làm cầu, cất dinh…không
được trả công.
Qua
bốn câu đó, ta thấy t́nh h́nh bất măn lên đến
cực điểm vào cuối năm 1884. Hổ phụ sinh
hổ tử. Hai người con của Phủ Ca cũng là
những tên cường hào ác bá. Một tên gọI là
Phủ Luông vừa gian ác, vừa hiếu sắc. Một
tay hắn phá nát không biết bao nhiêu gái trinh tiết.
“Thêm
công tử Phủ Luông mỹ hiệu,
Bởi
bội ước hồn phi yểu yểu…”
Trong “Vè
Quản Hớn”, dân gian dị nghị hai người con
Phủ Ca như sau:
“Hai chàng con
đốc phủ Ca,
“Xóm làng bắt hết, khảo tra sự t́nh”
“Ai ai đều cũng thất kinh,
“Trẻ già lo sợ như h́nh c̣ ma.”
"Ngỡ là con trả thù cha,
"Nào hay bán máu, đổi ra bạc tiền.
"Làm oai: kẻ trói, người xiềng,
"Dẫn về trường bố, cho liền cửa
quan"
"Ai mà muốn chối tai nàn,
"Bạc cây đem nộp, mới an thân ḿnh.
"Kẻ làm th́ dạ ưng t́nh,
"người không cũng bắt, hành h́nh dữ thay.
"Kẻ th́ kết án lưu đày.
"người th́ chém giết xứ này Hóc Môn"
Bài
"Vè Quản Hớn" đă tố cáo hành vi tàn ác
của hai người con Trần Tử Ca. Tuy không giữ
chức vụ ǵ, nhưng dựa lịnh cha, họ cũng
bắt người tra tấn để khảo của ,
bất luận oan hay ưng. Ngoài ra, theo lịnh Pháp hồi
đó, dân chúng đóng thuế dầu phộng để
đốt đèn. Theo lịnh Ca, dân nạp dầu
phộng nhiều, Ca cho lính ép lấy dầu, giữ
lại một phần lớn, c̣n ít th́ nạp vào kho.
Tiếng dữ được loan truyền trong dân chúng:
"Dân
bần tiện ḷng kia chẳng tưởng,
"Ép
lấy dầu nộp thiểu , thâu đa…"
Bao nhiêu
tiền của, do công lao, sức lực của dân nghèo, gia
đ́nh Ca đều tóm thâu gần hết. Gặp cảnh
khổ của người dân, Ca cũng không động
ḷng. Trong lúc mọi người oán hận Ca th́ Ca thản
nhiên tổ chức lễ mừng lục tuần ŕnh rang,
bắt lính tráng, dân phu phục dịch suốt tuần
lễ. Để giúp vui, Ca cho tổ chức đua
ngựa, rước gánh hát bội về diễn , nhưng
dân chúng phải góp tiền để trả. Các
hương chức hội tề chia nhau gánh vác, đóng góp
vàng lụa "mừng quan"
"…Khai
lục tuần địch thể giá vua,
"Theo
tân trào phá miếu đốt chùa"
gây thêm
khích động. Một người có tâm huyết,
đứng về phía dân chúng là Phan Công Hớn tục
gọi là Quản Hớn, đang coi việc an ninh trong làng.
Hớn cùng Nguyễn Văn Quá âm thầm chuẩn bị
gươm, dao, mác và bí mật chiêu tập một số nghĩa
quân chờ cơ hội. Dân chúng quá bất măn v́ bị bóc
lột tàn nhẫn nên họ theo Quản Hớn rất
nhiều. Như thường lệ, những ngày giáp
Tết Ất Dậu (1885), người tụ tập ngoài
đường, nơi vắng vẻ, luyện tập.
Chiều 30 Tết, trong khi mỗi gia đ́nh lo cơm
nước, rước ông bà, quét dọn nhà cửa
sạch sẽ , tươm tất. Gần đến
giờ Giao Thừa, giờ phút thiêng liêng mà mọi
người đang trông đợi như chậm lại.
Nhà nhà đều mở cửa. Trên mỗi bàn thờ,
đèn, nhang nghi ngút, sáng trưng. Bỗng môt hồi mơ
hiệu lịnh nổi lên:
-Có
biến động! Mơ hồi một!
Nhiều
nhà hốt hoảng. Cửa đóng. Đèn tắt. Ngoài
đường, tiếng chân người chạy sầm
sập. Chỉ phút chốc, một đoàn người
cầm đuốc, gươm dáo vừa tiến về
dinh quận Hóc Môn, vừa la ó:"Giết Phủ Ca",
"Chặt đầu vợ chồng Phủ Ca"!
Rồi
quân khởi nghĩa chia nhiều tốp, vừa phá
cổng, vừa bắn giết nhóm giữ cửa, trong khi
các nhóm khác leo tường lọt vào bên trong. Hồn phi phách
tán, vợ chồng Phủ Ca bị nghĩa quân bắt trói
trước sân đ́nh quận. Phẫn uất, chúng
liền chặt đầu, rồi sau đó đem bêu
phơi trước dinh quận. Quân khởi nghĩa
dưới quyền lănh đạo của Quản Hớn
thành công như nước vỡ bờ. Bao nhiêu thù ghét
được dịp bùng nổ. Họ đốt phá, bắn
giết những người trong gia đ́nh Phủ Ca.
Chỉ một vài người đàn bà, con nhỏ, gia
nhơn chạy thoát được.
Sáng mùng
một Tết, dân chúng Hóc Môn ăn mừng. Tết rất
lớn. Họ đem bánh tét, trà, thuốc đăi nghĩa
quân, rồi reo ḥ . Trong khi đó, Quản Hớn vẫn chia
quân pḥng thủ. Khoảng 3 giờ chiều, toán quân
tiếp viện đầu tiên tới. Họ giao tranh
với nghĩa quân, nhưng không chiếm lại
được dinh quận, v́ họ cố thủ. Rồi
quân Pháp từ Gia Định kéo lên, vây bốn mặt.
Đi tới đâu, quân Pháp bắn giết tới đó
để dằn mặt. Dân chúng bắt đầu bỏ
nhà chạy trốn vào rừng. Tuy quân số đông,
nhưng chỉ là ô hợp, họ chiến đấu v́
sự phẫn nộ lâu ngày như phá vỡ sự đè
nén, chớ không biết cách chiến đấu. Lại
nữa, súng đạn ít, gươm, dao không thể
đương đầu với vơ khí của Pháp nên
cuộc chiến đấu chậm dần. Một số
người bị thương, tử trận, một
số bỏ trốn. Giặc Pháp kéo vô dinh quận bắt
được Quản Hớn, Nguyễn Văn Quá, và
hơn hai mươi người c̣n lại. Cuộc
khởi nghĩa đă bị dẹp rất nhanh chóng.
Trước
đó chừng mười hôm, Đề Bường
(Nguyễn Văn Bường) cũng chuẩn bị
khởi nghĩa ở Phú Nhuận. Ư định của
Đề Bường là tấn công chợ Xă Tài (Phú
Nhuận) rồi kéo sang đốt chợ Đất
Hộ (Đa Kao), liên lạc với nghĩa quân Hóc Môn
để họ tiếp trợ. Đề Bường cho
người liên lạc với một nhóm tù bị giam
tại khám lớn, hẹn đến đêm đó nổi
lửa đốt khám, nghĩa quân sẽ đến
giải cứu. Tuy nhiên khám vẫn nổi lửa
đốt lên đúng hẹn, làm cho Pháp bỏ chạy ,
nhưng đợi măi không có quân đến tiếp cứu
v́ Đề Bường đă bị bắt trước
khi ra tay. Thế là cuộc khởi nghĩa của
Đề Bường chỉ gây được tiếng
vang mà thôi.
Mặc
dầu không có sự liên lạc, nhưng trước
cuộc khởi nghĩa Hóc Môn, nghĩa quân ám sát tên Trần
Bá Hựu, chủ quận Long Thành, em ruột của
Tổng Đốc Trần Bá Lộc, khiến người
Pháp có cảm tưởng rằng "phong trào Cần
Vương lan rộng vào Nam", làm cho họ ráo riết
chuẩn bị đối phó. Ngoài ra ở làng Long Hội,
giáp ranh giữa Mỹ Tho và G̣ Công, có Nguyên Soái Hiền, phó
Nguyên Soái Trần Công Chánh, cũng chiêu tập
được hàng trăm người , đồng
loạt nổi lên phá nhà việc làng. Họ kêu gọi dân
chúng cùng đứng lên giết giặc. Cũng như
nhiều nơi khác, nghĩa quân chỉ chiến đấu
với ḷng căm thù, nhưng thiếu tổ chức và vơ
khí, nên bị đàn áp nhanh chóng. Trong việc đem quân
trở lại Long Hưng, Pháp bị chết mấy
người lính làm cho họ càng thêm dă man, gặp ai nghi
ngờ, chúng giết lập tức. Cuối cùng, những
người cầm đầu như Nguyên Soái Hiền, Phó
Nguyên Soái Trần Công Chánh đều sa vào tay giặc.
Trước phong trào chống Pháp lên cao, Thống
Đốc Nam Kỳ dùng biện pháp phạt tiền nguyên
cả làng đó v́ đă "chứa chấp bọn
phiến loạn."
HẬU
QUẢ:
Sau
tất cả các biến cố đó, tỉnh Gia
Định bị giới nghiêm vào ban đêm hàng tháng
trời. Pháp áp dụng nhiều biện pháp để
kiểm soát an ninh, dập tắt các phong trào mới nhen
nhúm. Những vụ khởi nghĩa nầy, Pháp đều
đưa ra xử tại toà án B́nh Hoà, Gia Định.
Hồi đó, hạt Sài G̣n c̣n gồm luôn Gia Định.
Từ năm 1875, dinh tham biện (Toà Bố) đặt
tại làng B́nh Hoà, nên gọi hạt B́nh Hoà. Đối
với người Pháp, họ rất khó phân biệt
giữa "B́nh Hoà" và "Biên Hoà" nên họ
đổi ra Gia Định cho khỏi nhầm lẫn.
Từ năm 1889, họ đổi danh từ
"hạt" ra "tỉnh". Phiên xử nghĩa quân
ám sát Trần Bá Hựu, có một án tử h́nh dành cho
người cầm đầu và ba án khổ sai chung thân.
Vụ Đề Bường mưu toan khởi nghĩa
ở Phú Nhuận và phá khám lớn bị bắt lúc chưa
xảy ra, nên Thống Đốc Nam Kỳ áp dụng
biện pháp hành chánh, kư lịnh lưu đày ngày 21 tháng Hai
năm 1885. Nguyễn văn Bường chung thân khổ sai,
biệt xứ ở Côn Lôn, c̣n những người khác
bị từ năm đến mười năm. Năm
sau, Đề Bường bị bịnh chết ở Côn
Đảo.
Sáu tháng
sau, tỉnh B́nh Hoà nhóm để xử vụ Hóc Môn. Vụ
án liên quan đến nhiều người nên phiên xử kéo
dài nửa tháng. Sau đó, thực dân tuyên án: 14 người
tử h́nh trong đó có Phan Công Hớn, Nguyễn Văn Quá.
16 người khác tù khổ sai có thời hạn. Phiên toà
B́nh Hoà xử vụ Quản Hớn kết thúc ngày 31 tháng
Tám 1885. Thực dân muốn áp dụng h́nh phạt thật
nặng nề để dằn mặt dân bản xứ.
Tuy nhiên, bản án về tới Pháp, Tổng Thống Pháp
được báo cáo dư luận dân chúng Gia Định
bất măn, nên hạ bản án xuống: chỉ 2
người cầm đầu tử h́nh, c̣n lại 12
người khác bị khổ sai chung thân.
Sau
đó chừng một tháng, ta thấy dưới bến
tàu nhiều chiếc khởi hành chở tù đi đày
ở các hải đảo xa xôi hằng ngày . Trong dư
luận bấy giờ, dân chúng có câu ca dao:
"Ngó
ra ngoài biển mù mù,
"Thấy
tàu ông Thượng chở tù về Tây"
Về
Tây là về phía Tây. Đi gần có Côn Nôn. Đày xa có
Đại Hải hay đảo Bourbon tức đảo
Réunion thuộc Ấn Độ Dương sau nầy.
Cũng có một số ít bị đày sang đảo
Tahiti, hay Cayenne Nam Mỹ như các nạn nhân trong vụ
binh biến kinh thành Huế năm 1885. Sáng sớm ngày 30
tháng Ba 1886, tại chợ Hóc Môn, dân chúng chứng kiến
cuộc hành quyết hai lănh tụ cuộc khởi nghĩa
"18 thôn vườn trầu" là Phan Công Hớn và
Nguyễn Văn Quá. Vẫn theo bản án của ṭa B́nh Ḥa,
18 thôn liên hệ đă kể trên phải liên tục chung góp
để bồi thường cho gia đ́nh Phủ Ca
số bạc gần hai vạn đồng. Thời đó,
số tiền ấy quá lớn, nhiều người
chịu không nổi cảnh chung góp trả nợ phải
bỏ làng trốn đi nơi khác. Theo một nguồn
dư luận khác, cuộc khởi nghĩa sở dĩ
thành công nhanh chóng một phần do ḷng phẫn nộ
của dân chúng, và một phần do trong quân lính tham dự
có một số theo Thiên Địa Hội, dùng bùa phép
để trở nên gan dạ. Dầu sao cuộc khởi
nghĩa ấy cũng biểu dương truyền
thống bất khuất của dân tộc, và cũng là
một cách để dằn mặt bọn thực dân. Qua
vụ giết Phủ Ca, dư luận Hóc Môn phản ánh qua
bài "Vè Quản Hớn":
"Quản Hớn
dầu chết cũng rạng danh,
"V́ trừ được tham quan ô lại
"Quan đốc phủ thác đà cũng phải
"Khai lục tuần địch thể giá vu
"Theo tân trào phá miếu phá chùa,
"Thuở cựu trào làm cai phó tổng
"Ở một ngày một lộng
"Lầu ba từng lại có vơ môn
"Nhựt nhựt thường kiểng đổ
trống rung
"Xe song mă sướng đà quá sướng
"Dân bần tiện ḷng kia chẳng tưởng
"Ép dầu nộp thiểu, thâu đa..."
Sau
vụ nầy, Pháp đưa Phủ Ngôn từ G̣ Công
tới thay thế. Phủ Ngôn ở một thời gian
ngắn, Phủ Lê Tấn Đức kế nhiệm. Ông
Đức cũng nổi tiếng cường hào ác bá
ở Bạc Liêu, dân chúng, hương chức đều
kêu ca hành vi của ông. (Xem thêm bài "Cà Mau tiền
rừng bạc biển, nhưng cuộc sống khó
khăn" cùng tác giả trong sách "Nam Kỳ Lục
Tỉnh tập I", Văn Hóa tái bản lần thứ
nhất năm 1993). Từ đó, ở Hóc Môn có lưu
truyền hai câu ca dao:
"Mừng
xuân có pháo, có nêu,
Có
đầu quan phủ bêu nơi cột đèn"